Soạn Văn 10

Soạn bài văn lớp 10: Đọc – Hiểu Văn Bản Văn Học Trung Đại Việt Nam

Soạn bài Đọc – Hiểu Văn Bản Văn Học Trung Đại Việt Nam

I. NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

  1. Văn học Trung đại có những đặc trưng thi pháp riêng: chủ yếu viết bằng chữ Hán và chữ Nôm; thiên về biểu hiện “tâm”, “chí” con người; miêu tả mang tính ước lộ, biểu tượng, sáng tạo những tính cách cao thượng, đề cao chủ thể, đậm đà chất chữ tình, lời ít ý nhiều, ngôn ngữ hàm súc…

Đọc hiểu văn bản văn học Trung đại cần chú ý tới tất cả những đặc điểm trên để tránh những cách hiểu, cách cảm sai lệch, không đánh giá đúng giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm,.

  1. Rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu văn bản văn học trung đại (bình diện khái quát chung và tác phẩm cụ thể).

II. GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

Bài tập 1. Đọc – hiểu văn tự, điển cố, từ cổ:

  • So sánh bản dịch nghĩa và bản dịch thơ bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.

Gợi ý:

+ Hoành sóc (cắp ngang ngọn giáo) được dịch là “múa giáo” sẽ không thấy tư thế hiên ngang, lẫm liệt, vững chãi của người lính vệ quốc.

+Tam quân tì hổ khí thôn ngưu (Ba quân như hổ nuốt trôi trâu) dịch là “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu Bản dịch thơ bỏ mất chữ “tì hổ” (như hổ) làm cho chất dũng mãnh, hào khí bị mất.

+ Nam nhi vị liễu công danh trái (Nam nhi mà chưa trả được nợ công danh) dịch là “Công danh nam tử còn vương nợ” tuy đã thoát nghĩa nhưng vẫn chưa bật được chí khí của người anh hùng đang nóng lòng muốn lập công vì nước, trả nợ công danh.

  • Về chữ “tiễn” hay chữ “tị” trong câu thơ “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” (Bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi).

Gợi ý: Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi là bài thơ chữ Nôm. Chữ nôm có nhiều dị bản, nhiều bản phiên âm và đọc khác nhau. Chữ “tiễn” (ngát) có bản phiên âm là “tịn” (hết). Nên phiên âm là “tiễn” (ngát) hợp lý hơn bởi sen đặt trong tương quan với hoa, với thạch lựu, tất cả đang căng đầy sức sống. Ngoài ra, mùa hè thì sen chưa “tịn”.

  • Giải nghĩa từ ngữ và biểu tượng trong các câu của bài Đại cáo bình Ngô. (Xem lại chú thích và phần Đọc -hiểu văn bản bài Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi).

  • Giải thích điển tích văn học và từ cổ.

Gợi ý:

  • Từ “cội cây” chỉ sự phú quý. Tích: người chiêm bao dưới gốc cây hoè (Xem chú thích bài 77/Lý Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm).
  • Từ “dễ có ” tích “ngu cầm” (Xem chú thích bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi).

Bài tập 2. Đọc – hiểu tâm sự, chí hướng, tư tưởng trong văn bản văn học trung đại.

a. Giải thích ý nghĩa mấy câu thơ trong Bài phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu:

  • “Đến sông đây chừ hổ mặt/ Nhớ người xưa chừ lệ chan”: Hai câu nói lên tâm trạng xấu hổ và xót xa cho hiện tại tình hình đất nước lúc bấy giờ so với thời oanh liệt xưa kia. Đây là nỗi xót xa, sự xấu hổ của con người có “hùng tâm tráng khí”.
  • “Giặc tan muôn thuở thái bình/ Phải đâu đất hiểm cốt mình đức cao”. Hai câu khẳng định vai trò của con người (đặc biệt là “đức cao”) trong sự nghiệp đánh giặc, giữ nước, đem lại thái bình.
  • Phân tích tâm sự Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh kí?

Gợi ý: Xem lại phần Đọc- hiểu bài Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du. Chú ý tâm sự xót thương người tài sắc và thương cho chính mình của Nguyễn Du. Nguyễn Du đứng giữa hiện tại gửi niềm tri ân đến quá khứ và tìm sự đồng cảm ở hậu thế.

  • Phân tích tâm sự nàng Kiều trong những câu thơ:

  • “Mặc người / Những mình…..” : Thái độ hờ hững, buồn chán
  • “Vui là / Ai tri âm. ” : nỗi đau đớn, xót xa, ai oán đến cùng cực.

(Xem thêm phần đọc – hiểu bài “Nỗi thương mình” (Truyện Kiều –

Nguyễn Du).

  • Nêu tư tưởng, tình cảm của tác giả qua Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ).

Gợi ý: Xem lại phần đọc hiểu bài Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên nhất là lời bình của tác giả ở cuối truyện để thấy rõ hơn tư tưởng “Kẻ sĩ không nên kiêng sợ sự cứng cỏi” và thái độ ngợi ca “sự cứng cỏi” tinh thần dũng cảm, coi trọng công lý… của tác giả.

Bài tập 3. Đọc – hiểu giá trị nghệ thuật ngôn từ.

a. Phân tích cấu trúc cân đối của các câu thơ, chỉ ra ý nghĩa và vẻ đẹp của chúng.

Gợi ý:

  • “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao”

Đối giữa 2 câu theo kiểu tương phản, đối ý, đối lời, đối thanh: ta – người, dại – khôn, tìm – đến; nơi vắng vẻ – chốn lao xao.

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao “.

Đối trong một câu (tiểu đối): “Thu ăn măng trúc” – “đông ăn giá”; “Xuân tắm hồ sen” – “hạ tắm ao” tạo thành hai cặp có ý nghĩa bổ trợ tạo thành một bộ tứ bình bốn mùa xuân – hạ – thu – đông.

  • “Thạch hiểu hiên còn phun thức đó….Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”. Đoạn thơ bốn câu, hai câu tả màu sắc, hướng thơm, hai câu tả âm thanh.

Vẻ đẹp của cấu trúc cân đối tạo nên vẻ đẹp của bức tranh mùa hè rộn rã đầy sức sống.

b. Phân tích tính chất hàm súc của hình ảnh.

+ “Bóng buồm đã khuất bầu không / Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời”.

(Tại Lầu Hoàng Hạc – Lý Bạch)

Gợi ý:

Hai hình ‘ảnh: Cánh buồm khuất bầu không (Cô phàm viễn ảnh bích không tận) và dòng sông chảy ngang trời (Duy kiến trường giang thiên tế lưu), tạo nên rất nhiều cảm giác đối lập: cảnh và người, kẻ đi và người ở; bé nhỏ và rộng lớn, đơn chiếc và vô tận, hữu hạn và vô hạn, trời và nước…

Hình ảnh thơ vừa gửi gắm niềm thương nhớ vừa khắc hoạ tâm trạng nôn nao khó tả của Lí Bạch.

+ “Quốc thù chưa báo đầu đã bạc

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày”

(Nỗi lòng – Đặng Dung,)

Gợi ý: Hình ảnh người anh hùng với mái tóc bạc bao lần mài gươm dưới bóng trăng “Dù sau trăm đời vạn còn tưởng thấy sinh khí lẫm liệt” (Phan Huy Chú). Đây là hình ảnh thể hiện “hào khí Đông A”. Mái tóc bạc ánh lên dưới trăng. Bóng trăng và ánh gươm sự tương tác tuyệt đẹp của màu trắng và ánh sáng tạo nên hình tượng mang chí khí ngất trời.

Close