Soạn Văn 11

Soạn bài văn lớp 11: Từ Ngôn Ngữ Chung Đến Lời Nói Cá Nhân

Soạn bài Từ Ngôn Ngữ Chung Đến Lời Nói Cá Nhân

Soạn bài phần I: Ngôn ngữ là tài sản chung của Xã hội

Ngôn ngữ là tài sản chung của một dân tộc, một cộng đồng xã hội. Muốn giao tiếp được với nhau, xã hội (có thể bao gồm những người cùng một dân tộc, hoặc thuộc các dân tộc khác nhau) phải có một phương tiện chung. Phương tiện đó vừa giúp cho các cá nhân biểu hiện những nội dung mà mình muốn biểu hiện, vừa giúp họ lĩnh hội được lời nói của người khác. Vì vậy, mỗi cá nhân đều phải có và biết sử dụng ngôn ngữ chung của cộng đồng xã hội.

Tính chung trong ngôn ngữ của cộng đồng được biểu hiện qua những phương diện sau:

  1. Những yếu tố ngôn ngữ chung

Trong thành phần của ngôn ngữ có những yếu tố ngôn ngữ chung cho tất cả mọi thành viên, mọi cá nhân trong cộng đồng. Mỗi cá nhân dều cần tích lũy những yếu tố chung đó và biết sử dụng chúng dể tạo nên lời nói, đáp ứng nhu cầu biểu hiện nội dung và nhu cầu giao tiếp với người khác. Những yếu tố chung đó bao gồm:

Các âm và các thanh chung (các phụ âm, nguyên âm, thanh điệu,…)

Ví dụ: Trong lời nói của người Việt Nam nào cũng có các âm như a, e, o, i… và các thanh như thanh huyền, thanh sắc, thanh ngang,…

Các tiếng (tức các âm tiết) do sự kết hợp của các âm và thanh theo quy tắc nhất định. Ví dụ: Người Việt Nam nào cũng biết và dùng các tiếng như nhà, cây, người, nóng, lạnh, ăn, ngủ,…

Các từ. Ví dụ: Mỗi người đều biết và sử dụng được phần lớn các từ trong vốn từ của tiếng Việt như đất, nước, xe đạp, máy bay, đẹp, giàu, anh hùng,…

Các ngữ cố định (thành ngữ, quán ngữ). Ví dụ: Đã là người Việt Nam, ai cũng sử dụng được những ngữ cố định phổ biến , như thuận buồm xuôi gió, nước đổ đầu vịt, chân ướt chân ráo, cay như ớt, của đáng tội, nói tóm lại,…

  1. Các quy tắc chung, các phương thức chung

Các quy tắc và phương thức này được hình thành dần trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ và cần dược các cá nhân tiếp nhận và tuân theo, nếu muốn cho sự giao tiếp với cộng đồng đạt được hiệu quả.

Ví dụ:

Phương thức chuyển nghĩa từ: Chuyển từ nghĩa gốc sang nghĩa khác. Chẳng hạn, chuyển nghĩa theo phương thức ẩn ,dụ:

Các từ chỉ trạng thái sr Chỉ các mức độ của sự đo lường: của quả cây non một cân, già một cân non, già, chín *Chỉ các mức độ của nhận thức, trí tuệ: (nghĩa gốc) – suy nghĩ còn non  suy nghĩ đã chín  sự suy nghĩ già dặn

Quy tắc cấu tạo các loại câu: Ví dụ: cấu tạo loại câu ghép chỉ quan hệ nguyên nhân – kết quả bằng cặp quan hệ từ vì… nên… và hai cụm chủ – vị.

Vì gió tràn về rất mạnh nên cây trong vườn bị đổ nhiều.

Còn nhiều quy tắc và phương thức chung khác nữa thuộc các lĩnh vực ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ. Chúng có tính chất phổ biến và bắt buộc đối với mọi cá nhân khi tạo ra lời nói để thực hiện sự giao tiếp với các cá nhân khác trong cộng đồng xã hội.

Tóm lại, những yếu tố ngôn ngữ chung và các ‘quy tắc, phương thức chung làm nên tính chung trong ngôn ngữ của cộng đồng mà bất cứ ngôn ngữ dân tộc nào cũng phải có, và các thành viên trong cộng đồng ấy dều phải tuân theo để thực hiện tốt việc giao tiếp trong xã hội.

Soạn bài Phần II: Lời nói – sản phẩm riêng của cá nhân

Khi giao tiếp (nói hoặc viết), mỗi cá nhân sử dụng ngôn ngữ chung để tạo ra lời nói đáp ứng nhu cầu giao tiếp. Lời nói (gồm lời nói miệng và lời viết) của mỗi cá nhân vừa được tạo ra nhờ các yếu tố và phương thức, quy tắc chung, vừa có sắc thái riêng và phần đóng góp của cá nhân. Cái riêng trong lời nói của cá nhân dược biểu lộ ở cấc phương diện như sau:

  1. Giọng nói cá nhân

Khi nói, giọng mỗi người có một vẻ riêng, không giống người khác, tuy họ vẫn dùng các âm, các thanh chung thuộc ngôn ngữ của cộng đồng. Chính vì cái vẻ riêng đó mà ta có thể nhận ra giọng nói củà người quen ngay cả khi không nhìn thấy hay không tiếp xúc trực tiếp với họ (nghe điện thoại có thể nhận ra ngay giọng nói của người quen).

  1. Vốn từ ngữ cá nhản

Từ vựng của mỗi ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, nhưng mỗi cá nhân thường ưa chuộng và quen dùng những từ ngữ nhất định, tạo nên vốn từ ngữ cá nhân, vốn từ ngữ cá nhân đó phụ thuộc vào nhiều phương diện: lứa tuổi, giới tính, cá tính, nghề nghiệp, vốn sống, trình dộ hiểu biết, quan hệ xã hội,…

Ví dụ: Nghe lời nói của người bác, cháu bé nhặn xét:

“Bác nói, giọng nó khang khác thế nào ấy. Trời bác nói là giời. Sợ bác nói là hãi…” (Ma Văn Kháng)

Các từ trời, giời, sợ, hãi đều thuộc từ vựng tiếng Việt. Nhưng người bác lại quen dùng từ giời, từ /lãi; còn đứa cháu thì ưa dùng từ trời, từ sợ.

  1. Sự chuyển đổi, sáng tạo khi sử dụng từ ngữ chung, quen thuộc

Từ ngữ chung khi cá nhân sử dụng, có lúc được chuyển đổi, sáng tạo để tạo nên những biểu hiện mới. Có ‘sự chuyển đổi, sáng tạo trong nghĩa từ, trong kết hợp từ ngữ hoặc trong sắc thái phong cách,…

Ví dụ:

– Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người. (Hồ Chí Minh)

Từ trồng (thứ hai) được chuyển nghĩa (giáo dục, dào tạo) và dừng sang lĩnh vực con người.

– Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi (Xuân Diệu)

Từ buộc được chuyển nghĩa (buộc một vật vỗ hình, mong muốn giữ gió lại, gió dừng thổi) nên kết hợp được với từ gió.

Hai cách nói trên đây (trồng người, buộc gió) là cách nói có hình ảnh, gợi cảm, hàm qhứa ý nghĩa. Lời nói cá nhân ở đây mang phong cách nghệ thuật.

  1. Việc tạo ra các từ mới

Cá nhân có thể tạo ra những từ mới trong lời nói của mình theo những chất liệu ngôn ngữ có sẵn và các phương thức chung.

Ví dụ: Các từ ốp lát, rốt ráo, nhẽo nhợt trong các câu sau:

Công ty nhận xây dựng các lò kính, nhà máy gạch ốp lát cao cấp, sứ vệ sinh cao cấp… (Báo Quân đội nhân dân, 18 – 8 – 1996)

Chính sự bung ra của nhiều doanh nghiệp dã khiến cuộc cạnh tranh càng rốt ráo hơn… (Báo Đại đoàn kết, 11 – 2 – 1995)

Lúc ra về chỉ có mấy ông văn nghệ bắt tay tôi thôi mà cũng lạnh lẽo, nhẽo nhợt. (Nguyễn Khải, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 1 – 1999)

Những từ này ban đầu chỉ dùng trong lời nói của một cá nhân hay một vài cá nhân. Nhưng dần dần chúng có thể được cộng đồng chấp nhận, dùng theo và trở thành tài sản chung, phương tiện chung củạ xã hội. Lúc đó, chúng mang tính chung, tính phổ biến.

Biểu hiện rõ rệt nhất của nét riêng trong lời nói cá nhân là phong cách ngôn ngữ cá nhân. Điều này thấy rõ ỗ các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Nam Cao,… và đặc biệt là phong cách ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả văn và thơ của Người. Ngôn ngữ văn chương (tức lời nói) của họ mặc dầu vẫn bắt nguồn từ ngôn ngữ chung của dân tộc nhưng lại mang dấu ấn cá nhân, mang tính cá thể, không lẫn với người khác.

Soạn bài Phần Luyện tập Từ Ngôn Ngữ Chung Đến Lời Nói Cá Nhân

Qua các bài thơ Tự tình, Thu điếu, Khóc Dương Khuê, Thương vợ, Vịnh khoa thi Hương, thử nhận xét về lời nói cá nhân của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương.

Đọc bài thơ Vội vàng (Ngữ văn 11, tập hai) và nhận xét về lời nói cá nhân của Xuân Diệu.

Phân tích sự chuyển đổi nghĩa của từ ngữ in đậm trong câu thơ sau:

Bao giờ bến mới gặp đò ?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau? 

(Nguyễn Bính)

Sự kết hợp với từ “sầu” trong câu thơ sau có gì khác lạ?

Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghề.

(Nguyễn Du)

Close