Soạn Văn 11

Soạn bài văn lớp 11: Văn Học Việt Nam Từ Đầu Thế Kỉ XX Đến Cách Mạng Tháng Tám 1945

Soạn bài Văn Học Việt Nam Từ Đầu Thế Kỉ XX Đến Cách Mạng Tháng Tám 1945

Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một thời kì rất quan trọng trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử văn học nói riêng. Với không đầy nửa thế kỉ, xã hội Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc chưa từng thấy. Vượt lên sự kìm hãm của các thế lực thực dân phong kiến, hòa nhịp với sự lớn mạnh của dân tộc, nền văn học nước nhà đã phát triển theo hướng hiện đại hóa, với nhịp độ rất nhanh chóng và đạt được những thành tựu to lớn.

Soạn bài Những đặc điểm cơ bản của Văn học

(Đây là phần trọng tâm, quan trọng nhất để hiểu bài học. Các em cần đọc kĩ phần này, chú ý nhận rõ từng đặc điểm mà SGK đã nêu và phân tích. Có thể đặt ra câu hỏi tại sao đôi với từng đặc điểm (tại sao lại có dặc điểm 1, đặc điểm 2, đặc điểm 3) và tự lí giải theo hiểu biết của mình).

Văn học từ đầu thế kỉ XX đếĩỊ Cách mạng tháng Tám 1945 có ba đặc điểm cơ bản sau đây:

Văn học đổi theo hướng hiện đại hóa

Khái niệm hiện đại hóa ở đây được hiểu là quá trình làm cho văn học’ Việt Nam có tính chất hiện đại, có thể nhịp bước và hòa nhập với nền văn học thế giới. Nói văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 đổi mới mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa tức là khẳng dịnli nó thoát khỏi những dặc trưng của văn học trung đại, tạo nên được những đặc điểm, tính chất của một nền văn học hiện đại.

Đặc diểm này nói về khuynh hướng phát triển của văn học.

–    Nội dung hiện đại hóa diễn ra trên mọi phương diện: đổi mới quan niệm về văn chương, sự thay đổi kiểu nhà văn, đổi mới hệ thống thi pháp,…

Quá trình hiện đại hóa đã diễn ra qua ba giai đoạn:

+ Từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920: đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa văn học.

+ Khoảng từ năm 1920 đến năm 1930: quá trình hiện đại hóa của văn học đến giai đoạn này đã đạt dược những thành tựu đáng kể, một số tác giả đã khẳng định được tài năng của mình bằng những tác phẩm có giá trị.

+ Khoảng từ năm 1930 đến năm 1945: Nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ.

–    Hiện đại hóa trước hết là ở nội dung văn học: tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, … của nhà văn trước hiện thực cuộc sống. Nhưng hiện đại hóa lại dễ nhận ra ở hình thức của văn học: sự hình thành nền vãn xuôi quốc ngữ, sự xuất hiện phong trào Thơ mới, xuất hiện các thể loại mới như kịch nói, phóng sự và phê bình văn học.

–    Hiện đại hóa văn học là một quá trình, ở hai chặng đầu còn mang tính chất giao thời giữa cái mới và cái cũ, đến chặng thứ ba, công cuộc hiện đại hóa mới thực sự toàn diện và sâu sắc để hoàn tất quá trình hiện đại hóa văn học. Có thể thấy diều này trong quá trình hiện đại hóa thơ ca: thơ Phan Bội Châu (chặng thứ nhất), thơ Tản Đà (chặng thứ hai), thơ Xuân Diệu (chặng thứ ba).

Văn học hình thành hai bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng vừa đấu tranh, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển

–   Do đặc điểm của một nước thuộc địa, chịu sự chi phối mạnh mẽ và sâu sắc của quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, văn học hình thành hai bộ phận: công khai và không công khai với nhiều khuynh hướng (được xác định bởi khuynh hướng tư tưởng và quan điểm nghệ thuật).

–    Bộ phận văn học công khai là khu vực văn học hợp pháp của chính quyền thực dân phong kiến, phân hóa thành nhiều khuynh hướng, trong đó có hai khuynh hướng chính là văn học lãng mạn và vãn học hiện thực.

–    Bộ phận văn học không còng khai có thơ văn cách mạng bí mật, đặc biệt là thơ của các chí sĩ và các chiến sĩ cách mạng sáng tác trong tù.

–   Giữa các bộ phận, các khuynh hướng luôn luôn có sự đấu tranh với nhau về xu hướng chính trị và quan điểm nghệ thuật. Nhưng trong thực tế, ít nhiều chúng vẫn có sự tác động lẫn nhau để cùng phát triển.

Văn học phát triển với một nhịp độ hết sức nhanh chóng

Đặc điểm này nói lên tốc độ phát triển của văn học thời kì này.

Các thể loại văn học đều có sự phát triển hết sức nhanh chóng. Có thể thấy như sau:

–   Trong vòng 10 năm (1932 – 1941), Thơ mới liên tục phát triển với những tác giả tiêu biểu nhất cho từng chặng: Thế Lữ (chặng đầu 1932 – 1935), Xuân Diệu (đỉnh cao của thơ mới ở chặng thứ hai: 1936 – 1939), và sau đó là Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, …

–    Về tiểu thuyết và truyện ngắn cũng vậy. Chẳng hạn như tốc độ phát triển nhanh chóng của truyện ngắn: mở đầu là những truyện ngắn trào phúng độc đáo của Nguyễn Công Hoan; tiếp theo là kiểu truyện ngắn giàu chất trữ tình, thấm đượm chất thơ của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, truyện ngắn của Nguyễn Tuân có màu sắc vừa cổ điển vừa hiện đại; rồi truyện ngắn của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân hóm hỉnh và tài hoa; đặc biệt là những truyện ngắn hiện thực sắc nét, giàu giá trị nhần văn về cả hai đề tài người trí thức nghèo và người nông dân cùng khổ trong cảnh sống mòn mỏi và bế tắc của cây bút truyện ngắn bậc thầy Nam Cao.

Thành tựu to lớn về cả thơ và văn xuôi; nhiều tác giả thực sự tài năng và nhiều tác phẩm đáng gọi là kiệt tác đã xuất hiện trong thời kì này, đặc biệt trong giai đoạn 1930 – 1945.

Soạn bài phần Thành tựu Văn học

Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 dã kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của văn học dân tộc là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhàn đạo, dồng thời đem đến cho văn học thời kì này một đóng góp mới của thời đại: tinh thần dân chủ.

–    Tư tưởng yêu nước có sự phát triển, đổi mới theo thời đại: nước gắn liền với dân (“Dân là dân nước, nước là nước dân” – Phan Bội Châu); chủ nghĩa yêu nước gắn với lí tưởng xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản trong văn học cách mạng của các chiến sĩ cách mạng.

–    Tinh thần dân chủ đem đến cho truyền thống nhân đạo những nét mới: quan tâm tới những con người bình thường trong xã hội, nhất là tầng lớp nhân dân cực khổ, lầm than.

Cùng với thành tựu về nội dung tư tưởng, văn học thời kì này cũng đạt được những thành tựu to lớn về thể loại và ngôn ngữ văn học (đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ). (SGK đã, viết khá rõ và cụ thể về các thành tựu này – các em cần dọc kĩ phần viết này)

Vãn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 có vị trí hết sức quan trọng trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc. Một mặt, nó kế thừa tinh hoa truyền thống văn học dân tộc trong suốt 10 thế kỉ; mặt khác, mở ra một thời kì văn học mới – thời kì văn học hiện đại, có khả năng hội nhập với nền văn học chung của thế giới.

Close