Soạn Văn 11

Soạn bài văn lớp 11: Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Trích Kịch Vũ Như Tô) – Nguyễn Huy Tưởng

Soạn bài Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Trích Kịch Vũ Như Tô) – Nguyễn Huy Tưởng

Soạn bài Tác giả Nguyễn Huy Tưởng

Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) quê ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông tham gia hoạt động yêu nước từ những năm 30 của thế kỷ XX trong các phong trào Hướng đạo sinh, Hội truyền bá quốc ngữ ở Hải Phòng. Năm 1943, gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc.
Tháng 8-1945, là đại biểu Văn hóa cứu quốc đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào. Tháng 7-1946, được bầu là Phó tổng thư kí Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, là ủy viên thường vụ Hội Vãn nghệ Việt Nam, thư kí tòa soạn Tạp chí Văn Nghệ. Sau 1954, là úy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam (khóa I), Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng.
Tác phẩm chính: Đêm hội Long Trì (Tiểu thuyết, 1942), Vũ Như Tô (Kịch, 1943), An Tư (Tiểu thuyết, 1944), Bắc Sơn (kịch, 1946), Những người ở lại (kịch, 1948), Kí sự Cao Lạng (Kí, 1951), Truyện anh Lục (Tiểu thuyết, 1955), Bốn năm sau (Tiểu thuyết, 1959), Lũy hoa (Truyện phim, 1960), Sống mãi với thủ đô (Tiểu thuyết, 1961); nhiều truyện viết cho thiếu nhi, tiêu biểu là An Dương Vương xây thành ốc, Lá cờ thêu sáu chữ vàng.
Nguyễn Huy Tưởng là một trong những nhà văn có công đầu trong việc xây dựng nền văn học mới với sự đóng góp về công tác tổ chức lãnh đạo và sáng tác. Sở trường của ông là tiểu thuyết và kịch lịch sử và ông cũng đạt được những thành công trong lĩnh vực này. Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I, năm 1996.

Soạn bài Tác phẩm: Vũ Như Tô

Vở kịch Vũ Như Tô được Nguyễn Huy Tưởng viết xong vào mùa hè 1941, đề tựa tháng 6-1942, đăng trên Tạp chí Tri Tân năm 1943- 1944, sau in trong tập Kịch Nguyễn Huy Tưởng (NXB Văn học, Hà Nội, 1963)
Dựa vào sự kiện lịch sử có thật năm 1516 (hôn quân Lê Tương Dực bị giết, Cửu Trùng Đài bị phá, kiến trúc sư Vũ Như Tô cũng bị giết) Nguyễn Huy Tưởng bằng tài năng hư cấu nghệ thuật đã sáng tác nên vở kịch dài Vũ Như Tô gồm 5 hồi.

Tóm tắt tác phẩm Vũ Như Tô

Hồi 1: Nghe lời Đan Thiềm, Vũ Như Tô đã thay đổi thái độ, nhận xây dựng Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực (mặc dù trong thâm tâm vẫn ghét vị hôn quân này).
Hồi 2: Vũ Như Tô hăng hái xây Cửu Trùng Đài thì diễn ra mâu thuẫn giữa phe của Lê Tương Dực (hiện thân là-Đông các đại học sĩ Nguyễn Vũ) và phe đối lập (đại diện là Quận công Trịnh Duy Sản). Phe đối lập muốn bãi Cửu Trung Đài, nhưng công việc xây dựng vẫn tiếp tục.
Hồi 3: Thợ đói và bị chết nhiều vì tai nạn. Dân oán vua làm cho dân cùng, nước kiệt. Vũ Như Tô vẫn tích cực xây dựng Cửu Trùng Đài, Trịnh Duy Sản can vua, nhưng Lê Tương Dực không nghe.
Hồi 4: Vũ Như Tô bị đá đè bị thương vẫn đốc thợ xây Cửu Trùng Đài. Trịnh Duy Sản phát động cuộc nổi loạn.
Hồi 5: Lê Tương Dực bị Trịnh Duy Sản giết. Nguyễn Vũ tự sát. Cửu Trùng Đài bị thợ nổi loạn đập phá. Đan Thiềm và Vũ Như Tô bị phe nổi loạn giết. (Xem chi tiết ở SGK).

Tìm hiểu đoạn trích (Hồi thứ 5)

Các bạn cần đọc nhiều lần văn bản đoạn trích để nắm được diễn biến của hành dộng kịch, sự phát triển của xung đột kịch, các nhân vật kịch – cần chú ý đặc biệt đến hai nhân vật Vũ Như Tô và Đan Thiềm. (Có thể tập đọc diễn cảm vai hai nhân vật này).
Vũ Như Tô là một vở kịch dài gồm 5 hồi. Đoạn trích học là hồi thứ năm. Đây là hồi cuối cùng của vở kịch, lúc mâu thuẫn xung đột rất tập trung và lên tới cao trào để có một cách giải quyết theo hướng mà tác giả đã lựa chọn. Các em có thể nhận biết được các mâu thuẫn xung đột kịch trong hồi cuối này, đồng thời cũng thử xem xét về cách giải quyết mà tác giả đã lựa chọn ở đây đã thỏa đáng chưa, có lôgic với cuộc sống không?
Sau đó, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu và giải đáp các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học bài của SGK. Dưới dây là những gợi ý chính dể các em có thể dựa vào mà tìm hiểu, khám phá và trao đổi, bàn bạc thêm nhằm nắm dược những vấn đề cơ bản của đoạn trích.
Câu 1: Kịch Vũ Như Tô được xây dựng trên hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa phe Lê Tương Dực và phe nổi loạn, thực chất là mâu thuẫn giữa thế lực phong kiến thối nát sống xa hoa, trụy lạc với quần chúng nhân dân nghèo khổ; và mâu thuẫn giữa lí tưởng nghệ thuật ( cao siêu, thuần túy của muôn đời với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân. Hai mâu thuẫn này cùng song hành diễn ra và phát triển trong suốt bốn hồi đầu của vở kịch, dể đến hồi V được đẩy lên đến cao trào và đỉnh điểm:
–   Mâu thuẫn giữa phe nổi loạn và phe Lê Tương Dực trong hồi cuối đã lên tới đỉnh điểm và được giải quyết dứt điểm. Trịnh Duy Sản, Ngô Hạch giết chết Lê Tương Dực. Mâu thuẫn này chi phôi các mâu thuẫn khác và được các mâu thuẫn ấy làm cho tăng thêm.
–   Mâu thuần giữa lí tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô (xây Cửu Trùng Đài) với cuộc sống khổ cực của nhân dân cũng phát triển đến tột đỉnh và được giải quyết. Vũ Như Tô bị quân nổi loạn bắt, Cửu Trùng Đài bị đốt phá, lí tưởng nghệ thuật tan vỡ và nghệ sĩ bị giết.
Câu 2: Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm:
Vũ Như Tô: Say sưa trong lí tưởng nghệ thuật của mình về việc xây dựng Cửu Trùng Đài đến mức quên cả những thực tế đang diễn ra xung quanh: từ lời van lơn, cầu xin của Đan Thiềm đế giục ông chạy trốn, đến việc Lê Tương Dực bị giết, quân nổi loạn kéo vào cung cấm, bọn cung nữ van xin tha chết, …
Cho đến khi Ngô Hạch ra lệnh bắt, ông vẫn tin là mình không có tội, vẫn mơ tưởng đến việc làm nên “một tòa đài hoa lệ” để “tranh tinh xảo với hóa công”… Thậm chí khi kinh thành phát hỏa, ông vẫn chưa tỉnh ngộ, vẫn còn nói: “Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài”. Nhưng khi mắt thấy công trình đã bị đốt thì mới rú lên một câu chua chát: “Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì?
Nhà nghệ sĩ đã vỡ mộng trước thực tế đau xót của đất nước, nhân dân mà lâu nay đã không nhìn thấy do ông chỉ chạy theo cái lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn dời…
–   Đan Thiềm: Cũng là người yêu cái đẹp của nghệ thuật, biết quý trọng cái tài của nghệ sĩ nên đã ra sức van nài, giục Vũ Như Tô chạy trốn, thậm chí còn quỳ xuống để xin Ngô Hạch: “Tướng quân tha cho ông Cả. Nước ta còn cần nhiều thợ tài để tô điểm”. Xin tha cho Vũ Như Tô và xỉn chịu chết về mình, Đan Thiềm đã bộc lộ rõ sự quý trọng cái tài của người nghệ sĩ. Chỉ có điều, nàng cũng như Vũ Như Tô, đều chưa thấy được mối quan hệ biện chứng giữa nghệ thuật và cuộc sống.
Câu 3:
–   Khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm đã báo cho Vũ Như Tô biết nguy cơ bị giết đến nơi, Vũ Như Tô vẫn không chịu đi trốn vì vẫn tin là mình vô tội, vẫn muốn chứng minh sự quang minh chính đại của mình, và vẫn còn hi vọng thuyết phục được An Hòa Hầu, một trong những người cầm đầu phe nổi loạn (dẫn lời thoại của Vũ Như Tô (đầy hi vọng). “Dẫu ta ra mắt An Hòa Hầu…. dựng một kì công muôn thuở….
Và đáng lưu ý nhất là vì Vũ Như Tô muốn sống chết với Cửu Trùng Đài, coi đó là lẽ sống của mình, nếu Cửu Trùng Đài bị phá thì ông cũng không thiết sống nữa. Trong giờ phút nguy kịch nhất, ông vẫn nói tha thiết tự đáy lòng mình: “Đời ta không quỷ bằng Cửu Trùng Đài”. Như vậy, có nghĩa là mâu thuẫn trong tư tưởng của Vũ Như Tô vẫn chưa được giải quyết dứt khoát: ông vẫn không nhận ra sai lầm của mình, ông không đứng về phe Lê Tương Dực nhưng vẫn muôn hoàn thành công trình nghệ thuật đó cho muôn đời. Bản thân tác giả cũng băn khoăn (Lời tựa).
–   Vũ Như Tô là một nghệ sĩ có nhân cách, có lí tưởng nghệ thuật nhưng quá say sưa với ước mơ xây dựng cho đất nước một công trình nghệ thuật tuyệt mĩ, vĩnh cửu đến quên cả thực tế: dân chúng đang đói khổ, càng bị giai cấp thống trị bòn rút thêm mồ hôi, nước mắt và xương máu để xây Cửu Trùng Đài.
Khát vọng nghệ thuật của Vũ Như Tô có phần chính dáng, có phần cao đẹp nhưng đã đặt lầm chỗ, lầm thời và xa thực tế (giai cấp thống trị lúc dó quá xa hoa thối nát, nhân dân đang đói khổ vì SƯU thuế, tạp dịch, tham nhũng) dẫn đến phải trả giá bằng sinh mệnh của bản thân và của cả công trình nghệ thuật.
Trong việc xây Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vừa là tội nhân, vừa là nạn nhân. Tội nhân vì thực thi chủ trương của hôn quân, làm cho nhân dân thêm khố cực; nạn nhân vì ảo tưởng của chính mình. Vũ Như Tô chính là bi kịch của người nghệ sĩ không giải quyết đúng mối quan hệ giữa khát vọng nghệ thuật và hiện thực xã hội, giữa người nghệ sĩ và người công dân. Bài học của nhân vật thật đắt giá nhưng cũng thật thấm thía.
Việc quần chúng nổi loạn giết Vũ Như Tô, phá hủy Cửu Trùng Đài:
Trong việc này, quần chúng cũng có cái lí đúng của họ, vì họ đã đói khổ, xây Cửu Trùng Đài càng khiến họ thêm điêu đứng, hao tốn của cải, sức lực, thậm chí cả sinh mạng. Sự việc này diễn ra đúng với quy luật của con người trong hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ.
Nhưng quần chúng trong cơn giận dữ có thể nông nổi, chưa hiểu Vũ Như Tô – đặc biệt là khát vọng của người nghệ sĩ – nên chưa thể đồng tình với Vũ Như Tô, người có tâm, có tài, không cố tình hại dân.
Như vậy, việc nổi dậy giết Lê Tương Dực là đúng, việc tạm hoãn xây dựng Cửu Trùng Đài là đúng nhưng việc giết Vũ Như Tô là quá tay và việc phá hủy Cửu Trùng Đài là không nên.
Câu 4: Đặc sắc về nghệ thuật của kịch Vũ Như Tô qua đoạn trích:
Mâu thuẫn kịch tập trung dẫn đến cao trào, phát triển thành đỉnh điểm với nhiều hành dộng kịch dồn dập đầy kịch tính.
Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao.
Xây dựng nhân vật kịch sắc nét, khắc họa rõ tính cách, miêu tả đúng tâm trạng qua ngôn ngữ và hành động – đặc biệt là hai nhân vật Vũ Như Tô và Đan Thiềm.
Chính lớp kịch trong hồi V được chuyển một cách linh hoạt, tự nhiên, lôgic, liền mạch tạo nên sự hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.

Soạn bài phần Luyện tập Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Trích Kịch Vũ Như Tô) – Nguyễn Huy Tưởng

Suy nghĩ về một đoạn trong lời đề tựa vở kịch củ.a tác giả Nguyễn Huy Tưởng.
Gợi ý giải bài tập
Đoạn trích trong lời tựa thể hiện nỗi băn khoăn của Nguyễn Huy Tưởng khi viết vở kịch này: mâu thuẫn giữa người công dân và người nghệ sĩ trong bản thân tác giả cũng chưa giải quyết được dứt khoát. Trong hoàn cảnh giai cấp thống trị thối nát, nhân dân đói khổ, người công dân trong tác giả không muốn xây Cửu Trùng Đài, nhưng người nghệ sĩ trong ông vẫn muốn xây với ý nghĩ lợi dụng kinh phí, quyền lực của giai cấp thống trị để tạo cho dân tộc một công trình nghệ thuật vĩ đại.
Cách giải quyết này không đúng. Nghệ thuật không thể cao hơn cuộc sống, cao hơn sự sống còn của nhân dân. Khát vọng nghệ thuật của nghệ sĩ Vũ Như Tô là chính đáng, động cơ của Vũ Như Tô là chính đáng (xây dựng công trình vì dân tộc) nhưng xây Cửu Trùng Đài vào lúc đó là sai, là chất thêm gánh nặng lên tấm thân còm cõi -của dân chúng.
(Có thể thấy rõ nỗi băn khoăn của tác giả trong câu: “Than ôi! Như Tô phải hay những người giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”).

Close