Soạn Văn 12

Soạn bài văn 12: Thuốc – Lỗ Tấn

Soạn bài Đọc – hiểu văn bản Thuốc – Lỗ Tấn

A/ Soạn bài tác giả Lỗ Tấn

Lỗ Tấn (1881 – 1936) là nhà văn cách mạng Trung Quốc, bóng dáng của ông bao trùm cả văn đàn Trung Quốc thế kỉ XX.

Lỗ Tấn quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, miền Đông Nam Trung Quốc. Năm 13 tuổi, bố ông lâm bệnh, không thuốc mà chết, ông ôm ấp nguyện vọng học thuốc từ dây. Nhờ học giỏi, ông được học bổng sang Nhật và ông đã chọn ngành y để học.

Nhưng một lần xem phim, thấy rõ người dân nước mình ý thức dân tộc còn kém, ông bỗng giật mình mà nghĩ ra rằng: Chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần. Và thế là ông chuyển sang làm văn nghệ.

Làm văn nghệ, Lỗ Tấn dùng ngòi bút đế phanh phui các “căn bệnh tinh thần” của quốc dân, lưu ý mọi người tìm phương chạy chữa.

Toàn bộ sáng tác của ông, chủ yếu là ba tập truyện ngắn, nhiều tập tạp văn (bình luận chính trị, xã hội, văn nghệ) đều tập trung phê phán các bệnh tật tinh thần đã khiến cho quốc dân mê muội, tự thỏa mãn, “ngủ say trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.

Chủ đề “phê phán quốc dân tính” trong sáng tác của ông càng trở nên sâu sắc, thấm thìa, vì nhà văn đã viết với thái độ tự phê phán.

Tác phẩm của Lỗ Tấn có ảnh hưởng khá sâu rộng đến độc giả nước ta. Người Việt Nam đầu tiên dọc Lỗ Tấn chính là Bác Hồ. Ngay từ tuổi thanh niên, Người dã “thích đọc Lổ Tấn bằng tiếng Trung Quốc, và trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng, không chỉ một lần Người nêu gương Lỗ Tấn.

(Xem thêm về tác giả Lỗ Tấn trong Tiểu dẫn ở SGK tr.101 – 102).

B/ Soạn bài tác phẩm Thuốc

Thuốc được viết năm 1919, đúng vào lúc cuộc vận động Ngũ tứ bùng nổ. Truyện nói về căn bệnh “đớn hèn” của dân tộc Trung Hoa do nhân dân thì mê muội mà những người cách mạng thì xa rời nhân dân. Tác giả cảnh báo: Người Trung Quốc cần suy nghĩ nghiêm khắc về một phương thuốc để cứu dân tộc.

Đọc văn bản

Đọc toàn văn bản đế nắm được mạch truyện và có cảm nhận chung về tác phẩm; sau đó đọc kĩ phần III và phần IV của truyện:

  • Phần III: cảnh trong quán trà của lão Thuyên: đám đông bàn tán về việc chữa bệnh lao cho thằng Thuyên bằng bánh bao tẩm máu người và sau đó, chủ yếu bàn về cái chết của người cách mạng Hạ Du (bị chém).
  • Phần IV: cảnh ngoài nghĩa địa: hai bà mẹ có con chết gặp nhau “ mẹ thằng Thuyên (chết do bệnh lao) và mẹ người cách mạng Hạ Du (bị chém) – với sự xuất hiện một vòng hoa trên mộ người cách mạng.

Tìm hiểu văn bần
Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người mang ý nghĩa gì?

Truyện có nhan đề là Thuốc, và hình tượng đầu tiên hiện lên trước mắt người đọc là chiếc bánh bao tẩm máụ người dể chữa bệnh lao. Đây là một sáng tạo nghệ thuật hàm chứa ý nghĩa sâu sắc của Lỗ Tấn, bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống. Ở Trung Quốc, trước kia có tục mê tín, cho rằng máu người có thể trị được bệnh lao.

Mỗi khi có tù chém, thường có người đến mua những chiếc bánh bao mà tên đao phủ đã tẩm máu, đem về cho người bệnh ăn.

Trong truyện, người bệnh là thằng Thuyên, còn người đi mua chiếc bánh bao tẩm máu người chính là lão Thuyên, và lão đã phải xách đèn lồng đi trong đêm để mua nó với giá là một gói bạc. Đó là “một chiếc bánh bao nhuốm máu, đỏ tươi, máu còn nhỏ từng giọt, từng giọt”.

  • Bánh bao tẩm máu người, nghe như chuyện thời trung cố! Vậy mà nó vẫn xảy ra ở nước Trung Hoa trì trệ, đình đôn và tự thỏa mãn. Ý nghĩa trước tiên của hình tượng này – cũng là nghĩa đen của tên truyện – là: phương thuốc truyền thông chữa bệnh lao.
  • Bài thuốc mà bố mẹ thằng Thuyên nâng niu, trân trọng coi là thuốc tiên để cứu mạng thằng con “mười đời độc đinh” rốt cuộc không cứu được nó mà ngược lại đã giết chết nó. Nếu chỉ nhìn tầng nghĩa này, chủ đề tư tưởng của truyện chỉ có thế là chống mê tín dị do an. Đây chắc chắn không phải là diều mà nhà văn muôn nói khi viết truyện này.
  • Nhưng chính từ cái điều ấy, Lỗ Tấn đã đem đến cho hình tượng “chiếc bánh bao tẩm máu người” những tầng nghĩa mới, hàm chứa ý nghĩa sâu xa hơn. Chính bố mẹ thằng Thuyên đã áp đặt cho nó một phương thuốc quái quỷ, cứ tưởng là thuốc tiên, nhưng chính thuốc đó đã giết chết nó. Và cả đám người trong quán trà cũng sai lầm một cách vô tư như vậy.
  • Tên truyện do dó có một tầng nghĩa thứ hai, một tầng nghĩa sâu hơn, mang tính khai sáng: “Chiếc bánh bao tẩm máu người” ở đây là thuốc độc, mọi người phải giác ngộ rằng cái gọi là thuốc chữa bệnh được sùng bái vốn là thuốc độc. Người Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được-ngủ mê mãi trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ  – đó chính là thông điệp quan trọng nhất mà Lỗ Tấn muốn nói với người đọc từ hình tượng chiếc bánh bao này.
  • Liều thuốc độc ấy, trớ trêu thay, lại được pha chế bằng máu của người cách mạng – một người cách mạng dũng cảm, hiên ngang, xả thân vì nghĩa lớn, đổ máu cho sự nghiệp giải phóng nhân dân, trong đó có những người như bố mẹ thằng Thuyên, như ông Ba, như Cả Khang, …
  • Thế mà những con người ấy lại dửng dưng, mua máu người cách mạng để chữa bệnh, chẳng khác gì mua máu súc vật. Sự trớ trêu này gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ: Vì đâu quần chúng mê muội như vậy?
  • Tên truyện, do đó có một tầng nghĩa thứ ba: Phải tìm một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng và làm cho cách mạng gắn bó với quần chúng. Hiểu dược tầng nghĩa thứ ba này chính là đã tiếp cận tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Đó là: Đâu là phương thuốc chữa bệnh rã rời của quốc dân? Lỗ Tấn chỉ mới đặt câu hỏi, mà chưa có câu trả lời.

Hình tượng “chiếc bánh bao tẩm máu người” như dã phân tích trên đây, hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Đó là một sáng tạo nghệ thuật dặc sắc của Lỗ Tấn trong truyện ngắn này.

Qua cuộc bàn luận trong quán trà về Hạ Du, Lỗ Tấn muốn nói lên điều gí?

Qua cuộc bàn luận trong quán trà về Hạ Du, Lỗ Tấn muốn nói lên một sự thực về mối quan hệ giữa người cách mạng và quần chúng:

  • Trước hết, ta thấy quần chúng chưa hiểu gì về người cách mạng. Họ coi người cách mạng là những người “làm giặc”, bị bắt và bị xử chém. Bác Cả Khang gọi Hạ Du là “thằng quỷ sứ”, “thằng nhãi con”: “Cái thằng nhãi con ấy không muốn sống nữa, thế thôi”; “cái thằng nhãi con ấy thì chẳng ra cái thá gì hết. Nằm trong tù rồi mà còn dám rủ lão đề lao làm giặc!” Những người khác gọi Hạ Du là điên: “Hắn điên thật rồi!”, “Điên thật rồi!” (Ngay cả anh chàng hai mươi tuổi cũng gọi Hạ Du như thế).
  • Bản thân người cách mạng lại cô đơn, “bôn ba trong chốn quạnh hiu”, không gắn bó với quần chúng. Hạ Du dũng cảm, hiên ngang, xả thân vì nghĩa lớn, nhưng lại rất cô đơn, không ai hiểu việc anh làm, đến nỗi mẹ anh cũng gào khóc kêu anh chết oan! Quần chúng mua máu anh làm thuốc chữa bệnh cũng là lẽ tự nhiên.
  • Hình ảnh người cách mạng chỉ hiện lên gián tiếp qua cuộc bàn luận trong quán trà của đám quần chúng “còn ngủ mê”. Rõ ràng “truyện không đặt nhân vật cách mạng vào vị.trí chủ yếu mà chỉ đặt ở tuyến ngầm phía sau. Điều này có dụng ý sâu sắc: Khi quần chúng chưa giác ngộ thì máu của người cách mạng đố ra thật vô nghĩa, không được ai chú ý. Truyện đặt số đông quần chúng chưa được giác ngộ vào vị trí chủ yếu để chỉ rõ rằng, mục đích của tác phẩm vẫn là vạch trần sự đầu độc của tư tưởng phong kiến, nhằm thức tỉnh quần chúng đang mê muội”. (Lâm Chí Hạo, Chuyện Lỗ Tấn).

Về phương diện này, câu chuyện của đám đông quần chúng về Hạ Du trong quán trà và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người cùng bổ sung cho nhau đế bộc lộ tư tưởng chủ dề của tác phẩm.

Làm văn nghệ, Lỗ Tấn chỉ muốn “lôi hết bệnh tật của quốc dân”, cảnh báo cho mọi người suy nghĩ (AQ chính truyện, Cố hương…) mà ở đây, trong truyện ngắn Thuốc, chính là thái độ dửng dưng, vổ cảm trước sự hi sinh của những người đổ máu vì chính mình như Hạ Du.

  • Tìm hiểu ý nghĩa của vòng hoa trên mộ người cách mạng.

Không gian nghệ thuật của truyện là tù hãm, ẩm mốc, bế tắc: một quán trà nghèo nàn, một pháp trường vắng vẻ, một bãi tha ma mộ dày khít với một con đường mòn mờ ảo.

Tất cả toát lên vẻ u ám nặng nề, có cái gì trầm lắng, tĩnh lặng, chất chứa nỗi niềm. Nhưng thời gian nghệ thuật thì có tiến triển. Từ mùa thu “trảm quyết” dấn mùa xuân thanh minh dã thể hiện mạch suy tư lạc quan của tác giả.

Thu là mùa trảm quyết, chấm hết thời gian năm đó của tử tù, cũng là mùa chết bệnh, kết thúc cuộc đời của thằng Thuyên. Cái chết của hai người con, một chết chém, một chết bệnh, cũng như hai chiếc lá rời cành dể tích nhựa cho một mùa xuân hi vọng cũng giống như sự gieo mầm. Đến mùa Thanh minh, hai bà mẹ xa lạ với nhau dã bước qua con dường mòn để tìm đến nhau.

Và trên mộ người cách mạng đã xuất hiện một vòng hoa, khiến bà mẹ “loạng choạng lùi lại mấy bước, mắt trợn trừng, ngơ ngác” với ý nghĩ không rời khỏi đầu người mẹ đau khố: “Thể này là thế nào?”

Câu hỏi vừa nói lên sự bàng hoàng sửng sốt, vừa ẩn giấu một niềm vui vì có người hiểu con mình (chứng cớ là liền sau dó bà mới gào khóe, rồi lại khẩn cầu cho con qua chứng nghiệm) và hàm chứa một đòi hỏi phải có câu trả lời. Nhà văn Nguyễn Tuân đặc biệt trân trọng chi tiết này.

Ông viết: “Người đọc yên,sao được trước những câu hỏi như thế… Hình như nhân vật truyện hỏi thẳng vào chính mình… Tôi dọc truyện Thuốc cách đây đã lâu và tồn tại mãi trong đầu câu hỏi của bà mẹ nước Tàu cũ. Cho đến một ngày gần đây, tôi đọc thơ ta từ miền Nam gửi ra… bài Mồ anh hoa ở của Thanh Hải… Tự nhiên tôi cảm thấy mối liên quan thiêng liêng giữa hai sự kiện văn học vốn rất xa cách trong không gian và thời gian. Tôi cảm thấy như lời và ý thơ Mồ anh hoa nở (viết năm 1965) là để giải đáp trực tiếp cho bà mẹ Trung Quốc”. (Gửi Trung Quốc).

Bài thơ của Thanh Hải lấy cảm hứng từ những bông hoa không bao giờ tàn phai trên mộ người cộng sản trong những năm khủng bố trắng dưới chính quyền Ngô Đính Diệm ở miền Nam. Tác giả ca ngợi sự bất diệt của lí tưởng cách .mạng khi nó bén rễ sâu trong lòng quần chúng.

Một câu hỏi trong truyện Thuốc của Lỗ Tấn sau nửa thế kỉ đã được thực tế cách mạng trả lời. Nhưng ngay từ thiên truyện này, tác giả đã dể cho hai bà mẹ có con chết chém và con chết bệnh bước qua con đường mòn cố hữu đến gặp nhau và cùng sững sờ trước vòng hoa trên mộ người cách mạng.

Nhà văn vẫn vững tin vào tiền đồ cách mạng. Ông nói với mọi người rằng máu người tử tù dã thức tỉnh một bộ phận quần chúng; đã có người hiểu được cái chết vinh quang của họ và tâm nguyện bước tiếp bước chân khai phá của họ. Đó là ý nghĩa sâu sắc của vòng hoa trên mộ người cách mạng – một chi tiết nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm.

Close