Soạn Văn 12

Soạn bài văn 12: Tuyên Ngôn Độc Lập – Hồ Chí Minh – Phần tác giả

Soạn bài Tuyên Ngôn Độc Lập – Hồ Chí Minh – Phần tác giả

Tác giả Hồ Chí Minh

  • Vài nét về tiểu sử

Về tác giả Hồ Chí Minh, cần chú ý mấy điểm sau dây:

  1. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng thời là một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế.
  2. Người còn là một nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc với một sự nghiệp vãn học phong phú và có giá trị về nhiều mặt.
  3. Năm 1990, nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận và suy tôn Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa.
  • Quan đIểm sáng tác văn học nghệ thuật

Hồ Chí Minh lạ người am hiểu sâu sắc quy luật và đặc trưng của hoạt động văn nghệ, từ phương diện nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Điều đó trước hết được thể hiện trực tiếp trong hệ thống quan điểm văn học nghệ thuật của Người.

  1. Hồ Chí Minh coi văn nghệ là một vũ khí chiến dấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Nhà văn cũng phải có tính thần xung phong như người chiến sĩ ngoài mặt trận. Quan điểm đó được Người nói rõ trong bài Cảm tưởng đọc Thiên gia thi*:

“Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên dẹp,

Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông;

Nay ở trong thơ nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.”

Và khẳng định trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

  • Hồ Chi Minh luôn chú trọng tính chân thậttính dân tộc của văn chương; coi tính chân thật như một thước đo giá trị của văn chương nghệ thuật. Người căn dặn nhà văn phải “Miêu tả cho hay, cho chấn thật và cho hùng hồn” hiện thực phong phú của dời sống, và phải “giữ tình cảm chân thật”; “Nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc” và phải có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Người còn đề cáo sự sáng tạo của nghệ sĩ, và nhắc nhở “chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sáng tạo…
  • Khi cầm bút, Hồ Chí Minh bao giờ cũng, xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận dể quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm văn học. Người luôn tự đặt câu hỏi: “Viết cho ai?” (đối tượng viết), “Viết để làm gì?” (mục đích viết); sau đó mới quyết định “Viết cái gỉ?” (nội dung) và “Viết thế nào?” (hình thức). Và tùy từng trường hợp cụ thể, Người đã vận dụng phương châm đó theo những cách khác nhau. Vì thế những tác phẩm của Người chẳng những có tư tưởng sâu sắc, nội dung thiết thực mà còn có hình thức nghệ thuật sinh động, đa dạng.

Đó là ba điểm cốt lõi trong quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Người tự đề ra cho mình quan điểm sáng tác đó và Người đã tuân thủ đúng theo những điều đã đề ra. Toàn bộ sự nghiệp văn học lớn lao mà Người để lại cho dân tộc chính là những minh chứng hùng hồn và đẹp đẽ cho quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật của Người.

Sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh

Văn chương không phải là sự nghiệp chính của Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại một di sản văn học lớn lao về tầm vóc tư tưởng, phong phụ về thể loại và đặc sắc về phong cách nghệ thuật.

Văn chính luận

Do yêu cầu cách mạng, phần lớn những bài viết của Hồ Chí Minh thuộc loại văn chính luận, nhằm mục đích đấu tranh chính trị, tiến công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng của dân tộc qua những chặng đường lịch sử. Văn chính luận của Người, dù viết bằng tiếng Pháp hay tiếng Việt, viết khi đang hoạt động cách mạng nước ngoài hay khi đã về nước lãnh đạo phong trào cách mạng, đều mang tính chiến đấu mạnh mẽ và có tác dụng to lớn.

Bởi Người đã nhằm đúng đối tượng, để viết: với kẻ thù thì châm biếm, đả kích sắc sảo, giàu chất trí tuệ, tiêu biểu là Bản án chế độ thực dân Pháp viết bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu ở Pa-ri năm 1925; với nhân dân thì phổ cập, đại chúng, ngắn gọn, dễ hiểu, vằn chính luận của

Người kết hợp chặt chẽ giữa nội dung tư tưởng lởn lao với nghệ thuật nghị luận già dặn, giữa lí trí sáng suốt và tình cảm nồng-nàn, giữa người viết và người đọc, di thẳng vào lòng quần chúng nhân dân dể dấy lên sức mạnh và hành động cách mạng.

Có thể nói Hồ Chí Minh là một cây bút chính luận mẫu mực trong văn chính luận hiện dại nước ta với những tác phẩm đã đi vào lịch sử dân tộc như Tuyền ngôn Độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập, tự do (1966).

Truyện và kí

Hồ Chí Minh còn là một cây bút văn xuôi đầy tài năng với những tác phẩm truyện và kí dặc sắc viết bằng tiếng Pháp khi Người hoạt động cách mạng ở Pháp trong những năm 20 của thế kỉ XX, Những truyện này đăng báo ở Pa-ri, sau này được tập hợp lại trong tập Truyện và kí của Nguyễn Ái Quốc: Pa-ri (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), v.v…

Các tác phẩm này đều nhằm tố cáo tội ác dã man, bản chất tàn bạo và xảo trá của bọn thực dân và phong kiến tay sai đối vói nhân dân lao động các nước thuộc địa, đồng thời đề cao những tấm gương yêu nước và cách mạng. Bằng một bút pháp rất hiện đại, Nguyễn Ái Quốc đã tạo nên được những tình huống truyện độc đáo, hình tượng góc cạnh, sinh động, sắc sảo, với nghệ thuật trần thuật linh hoạt. Truyện và kí đã đem đến cho văn học dân tộc một vẻ đẹp riêng độc đáo của Nguyễn Ái Quốc.

Thơ ca

Thơ ca thể hiện rõ nhất tâm hồn nghệ sĩ của nhà thơ Hồ Chí Minh. Do yêu cầu cách mạng, Người có viết một số thơ ca tuyên truyền hồi tiền khởi nghĩa, nội dung phổ cập, dễ hiểu nhưng trong đó vẫn có những bài có tính nghệ thuật cao như Ca sợi chỉ, Con cáo và tổ ong, Nhóm lửa, …Thơ nghệ thuật của Người nói lên tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và nhân cách cao đẹp tuyệt vời của Bác trước thiên nhiên, con người và cuộc sống.

Nhật kí trong tù là tập thơ chữ Hán nổi tiếng của Hồ Chí Minh vì đó chính là bức chân dung tự họa của Người trong những ngày bị giam cầm đau khổ và khắc nghiệt nhất. Đọc Nhật kí trong tù, Đặng Thai Mai “thực sự cảm thấy đứng trước một thi sĩ và một con người cao cả vĩ đại”; còn nhà văn Viên Ưng (Trung Quốc) thì khẳng định đã tìm thấy ở tập thơ “một tâm hồn vĩ đại của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng”.

Thơ kháng chiến của Bác được tập hợp lại trong hai tập Thơ Hồ Chí Minh (1967) và Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (1990), vừa có màu sắc cổ điển, vừa hiện đại, nổi bật lên hình ảnh nhân vật trữ tình mang nặng “nỗi nước nhà” mà phong độ vẫn ung dung, tâm hồn luôn hòa hợp với thiên nhiên, thể hiện bản lĩnh của một nhà cách mạng vĩ đại luôn luôn làm chủ tình thế, tin vào tương lai tất thắng của cách mạng, tuy trước mắt còn biết bao gian nan, thử thách.

Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh

Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh độc dáo, đa dạng mà thống nhất. Nhìn chung, ở mỗi thể loại văn học, từ văn chính luận, truyện kí đến thơ ca, Hồ Chí Minh đều tạo dược những nét phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn.

Ví như: vãn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, vừa có lí lại có tình, đi thẳng vào lồng người, đầy sức thuyết phục; truyện và kí lại rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén; còn thơ nghệ thuật thì có sự hòa hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại, giữa chất tình và chất “thép”, giữa trong sáng, giản dị và hàm súc, thâm trầm, sâu xa (trong khi thơ tuyên truyền cách mạng thường được viết bằng hình thức bài ca, lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ nhớ, mang màu sắc dân gian hiện đại), … (Anh (chị) có thể xem thêm những nét phong cách riêng của từng thể * loại trong SGK).

Theo từng thể loại, phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có những nét riêng hết sức phong phú, đa dạng nhưng vẫn thông nhất ở một phong cách chung của Người. Đó là cách viết ngắn gọn, trong sáng, giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật khác nhau nhằm thể hiện một cách nhuần nhị và sâu sắc nhất tư tưởng của người cầm bút.

Kết luận

Vãn thơ Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá, là một bộ phận gắn bó hữu cơ với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người. Văn thơ của Người không chỉ có tác dụng to lớn dối với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam mà còn có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn học và đời sống tinh thần của dân tộc.

Tìm hiểu văn thơ của Hồ Chí Minh, người đọc thuộc nhiều thế hệ được trực tiếp soi vào thế giới tâm hồn rộng lớn của Người và có thể tìm thấy ở đấy những bài học cao quý.

Hướng dẫn học bài

Dựa vào các mục II, IIỊ, IV trong bài học trên đây để trả lời các câu hỏi 1, 2, 3, trong phần Hướng dẫn học bài.

Cuối cùngđọc kĩ và học thuộc phần Ghi nhớ trong SGK để nắm được * bài học.

Luyện tập soạn bài Tuyên Ngôn Độc Lập – Hồ Chí Minh – Phần tác giả

Bài 1. Đề bài yêu cầu phân tích bài thơ Chiều tối (Mộ) trong tập Nhật kí trong tù để làm sáng tỏ một nét phong cách của thơ Hồ Chí Minh: sự hòa hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại. Có thể

xem lại bài học Chiều tối (Mộ) đã học ỏ’ lớp 11. Gách làm như sau:

  • Tìm những biểu hiện của bứt pháp cổ điển trong bài thơ.
  • Tìm những biểu hiện của bút pháp hiện dại trong bài thơ.
  • Xét xem hai bút pháp dó đã hòa hợp với nhau trong bài thơ nhừ thế nào? .

Bài 2. Những bài học thấm thía và sâu sắc mà anh (chị) tiếp thu dược khi học và dọc những bài thơ trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh?

Phạm vi, nội dung của bài tập rộng và đòi hỏi một sức khái quát cao để làm bài. Anh (chị) có thề tiến hành, theo các bước:

  • Tìm đọc thêm một số bài trong tập Nhật kí trồng tù (ngoài Mộ và Lai Tân đã học).
  • Suy nghĩ về nội dung các bài thơ đó.
  • Từ các bài thơ đó, khái quát thành những bài học thấm thìa và sâu sắc của bản thân mình.

Xem thêm: Soạn bài Tuyên ngôn độc lập

Close