Soạn Văn 10

Soạn bài văn lớp 10: Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du

Soạn bài Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều) – Nguyễn Du

I. NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

  1. “Chí khí anh hùng” là đoạn trích nói về Từ Hải – một anh hùng cái thế, nhân vật thể hiện giấc mơ công lí của Nguyễn Du. Đoạn trích khắc hoạ hình ảnh Từ Hải với tính cách anh hùng, chí khí phi thường, khát vọng tự do mãnh liệt. Đoạn trích thể hiện bút pháp lí tưởng hoá của Nguyễn Du trong việc xây dựng nhân vật qua hệ thống từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu…
  2. Rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu một đoạn trích hay trong một kiệt tác của văn học Việt Nam (Truyện Kiều).

II GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

Bài tập 1. Phân tích hình ảnh Từ Hải trong 4 câu thơ đầu.

Gợi ý: Từ Hải là một anh hùng lí tưởng. Từ ngoại hình lời nói, đến hành động, tính cách và ngay cả cách tỏ tình của Từ Hải đều toát lên phẩm chất người anh hùng. Tâm thế Từ Hải luôn thuộc về . “bốn phương”, chàng là người của “trời bể mênh mang” và sẵn sàng vào tư thế “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong”. Mọi việc đến nhanh, dồn dập và dứt khoát.

“Động lòng bốn phương” là cụm từ có sức gợi cảm lớn, Từ Hải nghe tiếng gọi của bốn phương dậy lên trong lòng trượng phu chí lớn. Hai câu 3 và 4 mở ra không gian “bốn phương” rộng lớn: “Trời bể mênh mang”, “lên đường thẳng giong”. Không gian có sức biểu đạt “chí khí anh hùng”. So với hiện thực xã hội thời phong kiến, Từ Hải là một con người “quá kích cỡ”, vì thế hình ảnh Từ Hải phải được đặt trong không gian vũ trụ, trời đất. Thanh gươm của Từ Hải là thanh gươm công lý. Con đường Từ Hải đi là con đường dẹp ác, trừ gian. Nguyễn Du đã miêu tả Từ Hải với thái độ ngưỡng mộ. Ông đã dồn tất cả vẻ đẹp của người anh hùng lí tưởng, giấc mơ của nhân dân vào trong hình tượng Từ Hải.

Bài tập 2. Phân tích cảnh tiễn biệt giữa Kiều và Từ Hải.

Gợi ý:

  • Vì sao tác giả dựng lên hình ảnh “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong” rồi mới để Kiều nói xin theo? Cảnh tiễn biệt diễn ra ở đâu?

  • Khác với cảnh tiễn biệt giữa Kiều với Kim Trọng và Kiều với Thúc Sinh, đây là cảnh tiễn biệt của Kiều với một trượng phu chí lớn. Chí khí, lòng quyết tâm của Từ là không gì lay chuyển. Việc ra đi của Từ là công việc tất yếu, quan trọng hàng đầu cho nên phải miêu tả trước và miêu tả một cách ước lệ. Còn việc xin theo của Kiều, tuy rất quan trọng với cuộc đời Kiều, nhưng so với người anh hùng, thì đó chỉ là công việc “nữ nhi thường tình”. Cho nên, có thể thấy, sớ đĩ đế Từ Hải lên ngựa và “lên đường thẳng rong” rồi, Nguyễn Du mới nói đến lời tiễn biệt của Kiều, đó là vì, mục tiêu miêu tả của đoạn này là muốn tôn vinh Từ Hải như một nhân vật anh hùng, nổi bật. Ngoài ra, cần hiểu đây là tác phẩm cổ điển, viết theo lối ước lệ, không hiểu theo lối tả thực của văn học hiện đại.
  • Cảnh tiễn biệt vẫn có thể diễn ra trước nơi ở của hai người (lầu xanh Bạc Bà), khi Từ đã sẵn sàng lên đường.

  • Từ Hải nói gì với Kiều và lời của Từ bộc lộ tính cách anh hùng như thế nào?

  • Giải thích các từ cổ: “Tâm phúc tương tri”, “nữ nhi thường tình”, “tinh binh”, “bóng tinh”, “nghi gia” (xem SGK).
  • Khái quát lời Từ Hải nói với Kiều: Giải thích lý do không thể đem nàng theo và hứa hẹn ngày trở về.
  • Khẩu khí lời nói của Từ Hải rõ là của bậc trượng phu chí lớn: đàng hoàng, đĩnh đạc, có hào khí. Khẩu khí ấy một phần được tạo nên bởi các hình ảnh phi thường, hào hùng: “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường”, “bốn bể không nhà”…

Lời của Từ nói với Kiều không giống lời của người yêu với người yêu, không hẳn của người chồng với người vờ mà đó là lời của một trang anh hùng với người “tâm phúc tương tri”. Qua lởi Từ ta thấy hiện lên tính cách, „ phẩm chất, chí khí và khát vọng của một trang anh hùng hảo hán.

Bài tập 3. Phân tích khuynh hướng lí tưởng hoá của ngòi bút Nguyễn Du qua việc khắc hoạ nhân vật Từ Hải.

Gợi ý:

+ Từ Hải là nhân vật lí tưởng. Nguyễn Du đã vẽ lên chân dung Từ Hải với cảm hứng ngợi ca bởi Từ chính là giấc mơ công lí của Nguyễn Du.

+ Đặc biệt là những hình ảnh phóng túng, oai hùng: con người “thanh gươm yên ngựa”, “tưởng như che cả trời đất” (Hoài Thanh). Đoạn thơ khép lại bằng cách mở ra hình ảnh cánh chim bằng lướt gió tung mây (“Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”).

+ Nhà thơ sử dụng hệ thống từ ngữ chỉ bậc “trượng phu”: thoắt, quyết,.dứt (áo), động lòng bốn phương, thẳng giong, dậy đất, rợp đường, tinh binh, phi thường, bốn bể, dặm khơi…

Ngôn ngữ đối thoại cùng với những biện pháp miêu tả có tính thậm xưng, ước lệ cũng góp phần làm cho khuynh hướng lí tưởng hoá trong ngòi bút Nguyễn Du thêm phần nổi bật. Hình ảnh Từ Hải được hiện lên với vẻ đẹp của sự phi thường.

Bài tập 4. Nhận xét, đánh giá chung về đoạn trích.

Gợi ý:

Đoạn trích ngợi ca chí khí anh hùng, sự lẫm liệt vô song của Từ Hải. Qua đó Nguyễn Du muốn thể hiện khát vọng công lý, xây dựng người anh hùng lí tưởng trong thời đại ông.

Đoạn trích so với Kim Vân Kiều truyện là hoàn toàn sáng tạo, ngôn ngữ điêu luyện, hình ảnh gợi tả, gợi cảm lớn… tất cả bộc lộ khuynh hướng lí tưởng hoá trong việc xây dựng nhân vật Từ Hải.

Bài tập nâng cao: Từ các đoạn đã học, hãy nêu nhận xét khái quát về nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Gợi ý: Đây là câu hỏi và tuyển tập tổng hợp những kiến thức đã học về Truyện Kiều trên một khía cạnh: nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. Có thể nêu một số nhận xét sau:

  • Nghệ thuật thể hiện, miêu tả trực tiếp diễn biến tâm lí nhân vật.
  • Nghệ thuật thể hiện, miêu tả gián tiếp tâm lý qua ngoại cảnh…
  • Nghệ thuật thể hiện quá trình diễn biến tâm lí tự nhiên, hợp quy luật.
  • Những trạng thái tâm lý mang tính cá thể rõ nét.
  • Vận dụng ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện, các hình thức đối thoại, độc . thoại nội tâm, lời trần thuật nửa trực tiếp…
Close