Soạn Văn 11

Soạn bài văn lớp 12: Vào Phủ Chúa Trịnh – Trích Thượng Kinh Kí Sự  – Lê Hữu Trác

Soạn bài Vào Phủ Chúa Trịnh – Trích Thượng Kinh Kí Sự  – Lê Hữu Trác

Soạn bài Tác giả Lê Hữu Trác

Lê Hữu Trác (1720 – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên), ông là danh y nổi tiếng của thời trung đại nước ta, dể lại bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển, biên soạn trong gần 40 năm, vừa có giá trị y học vừa có giá trị văn học (ghi lại cảm xúc khi chữa bệnh, bộc lộ tâm huyết và dức dộ của người thầy thuốc).

Tác phẩm Vào Phủ Chúa Trịnh

Thượng kinh kí sự là tập kí sự bằng chữ Hán, viết năm 1782 và khắc in năm 1885, được xếp ở cuối bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh như là một quyển phụ lục. Thượng kinh kí sự tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà chúa — những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe nhân dịp được chúa Trịnh Sâm triệu về kinh chữa bệnh cho chúa và thế tử Trịnh Cán. Tác phạm cũng cho thấy thái độ khinh thường lợi danh của tác giả qua cuộc đấu tranh kiên trì để thoát khỏi sự trói buộc của công danh. Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh kể lại việc tác giả được triệu gấp về kinh để bắt mạch kê đơn thuốc chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán.

Soạn phần Tìm hiểu đoạn trích Vào Phủ Chúa Trịnh

Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh là một trong những đoạn tiêu biểu của Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, đã ghi lại bức tranh hiện thực của Trịnh phủ một cách chân thực, sắc sảo đồng thời bộc lộ rõ thái độ của tác giả trong chuyến đi chữa bệnh cho thế tử.

Bức tranh hiện thực sắc nét của phủ chúa Trịnh

Quang cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ, lại thâm nghiêm, nói lên quyền uy tột bậc của nhà chúa:

+ Lệnh triiyền vào phủ gấp, cáng chạy như ngựa lồng, tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường,…

+ Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa, với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”. Ớ mỗi cửa đều có người giữ cửa trình báo tên người muốn vào phủ và có vệ sĩ canh gác, “ai muốn ra vào phải có thẻ”, trong khuôn viên phủ chúa có điếm “Hậu mã quân túc trực” dể chúa sai phái di truyền bá mệnh lệnh ra bên ngoài.

Vườn hoa trong phủ chúa “cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”. Trong khuôn viên phủ chúa, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Tất cả đã nói lên vị trí trọng yếu và quyền uy tối thượng của chúa trong triều đình.

+ Bên trong phủ là những nhà Đại đường, Quyển hồng, Gác tía với kiệu son, võng điều, đồ nghi trượng sơn son thiếp vàng và “những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy”. Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là “mâm vàng, chén bạc”.

+ Đến nội cung thế tử phải qua năm, sáu lần trướng gấm. Trong phòng không có ánh sáng tự nhiên mà chỉ thắp nến. Nơi ở của thế tử rất sang trọng, có sập thiếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn là che ngang sân, “xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”.

Quang cảnh này tự nó nói lên quyền uy tối thượng nằm trong tay nhà chúa cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của chúa Trịnh Sâm và gia đình ông ta.

Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa càng bộc lộ rõ và tô đậm thêm uy quyền và nếp sống đó:

+ Bài thơ của tác giả: Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt. Cả trời Nam sang nhất là đây!

+ Lời lẽ nhắc đến chúa Trịnh và thế tử đều phải hết sức cung kính, lễ độ: Thánh thượng đang ngự ở đấy, chưa thể yết kiến; hầu mạch Đông cung thể tử (xem mạch cho thế tử), hầu trà (cho thế tử uống thuốc), phòng chè (nơi thế tử uống thuốc).

+ Chúa Trịnh luôn luôn có “phi tần chầu chực” xung quanh. Tác giả không được thấy mặt chúa mà chỉ làm theo mệnh lệnh chúa do quan Chánh đường truyền dạt lại. Nội cung trang nghiêm đến nỗi tác giả phải “nín thở đứng chờ ở xa”, “khúm núm đến trước sập xem mạch” cho thế tử.

+ Thế tử bị bệnh có đến bảy, tám thầy thuốc phục dịch và lúc nào cũng có “mấy người đứng hầu hai bên”. Thế tử chỉ là một đứa bé năm, sáu tuổi nhưng khi vào xem bệnh, tác giả, một cụ già, phải quỳ lạy bốn lạy, xem mạch xong lại lạy bốn lạy trước khi lui ra. Muốn xem thân hình của thế tử phải có một viên quan nội thần đến xin phép dược cởi áo cho thế tử.

Tác giả đã quan sát tinh tế và ghi chép lại một cách chân thực bằng những chi tiết miêu tả sắc nét, gây ấn tượng mạnh mẽ trong người đọc, chẳng hạn như:

+ Thế tử, một đứa bé, ngồi chễm chệ trên sập vàng dể một cụ già quỳ dưới đất lạy bốn lạy, rồi cười và ban một lời khen: “Ông này ĩạy khéo”. Thật mỉa mai!

+ Tả khi đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Đột nhiên thấy ông ta mở một chỗ trong màn gấm rồi bước vào. Ớ trong tối om, không thấy có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy…” mới đến phòng của thế tử. Thật là thâm nghiêm, “kín cổng cao tường”!

+ Tả tỉ mỉ các chi tiết bên trong cái màn là nơi “Thánh thượng đang ngự”, “có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít, đèn sáp chiếu sáng, làm nổi màu mặt phấn và màu áo đỏ”. Thật là một cuộc sống xa hoa đáng lên án của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ.

Đây là những chi tiết “đắt”, cùng với những chi tiết khác tạo nên bức tranh phủ chúa chân thật, sắc nét, có hồn. Con mắt quan sát của nhà văn quả là tinh tế. Uy quyền tối thượng và việc ăn chơi hưởng lạc của nhà chúa tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc không cần thêm một lời bình luận nào. Đó chính là giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích cũng như của cả tập kí sự.

Thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ của tác giả

– Trước hiện thực đó, thái độ, tâm trạng và suy nghĩ của tác giả như thế nào? Nhà văn đã bộc lộ, khi thì trực tiếp qua cảm xúc, ý nghĩ của mình; khi thì gián tiếp được nói lên qua cách miêu tả và ghi chép hiện thực nơi phủ chúa.

+ Đứng trước cảnh phủ chúa xa hoa lộng lẫy, tấp nập người hầu kẻ hạ, tác giả đã nhận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường” và vịnh một bài thơ tả hết cái sang trọng, vương giả trong phủ chúa (gác vẽ, rèm châu, hiên ngọc, vườn ngự có hoa thơm, chim biết nói, lính gác nghìn cửa…) với lời khái quát: Cả trời Nam sang nhất là đây.

+ Khi dược mời ăn cơm sáng, nhà văn ghi lại cảm nhận của mình: “mâm vàng, chén bạc, dồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà dại gia”.

+ Nói về bệnh trạng của thế tử, tác giả nhận xét “vì thế tử ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”.

Qua những chi tiết trên, có thể thấy mặc dù khen cái đẹp, cái sang nơi phủ chúa, nhưng tác giả tỏ ra dửng dưng trước cuộc sống vương giả ở đây và không đồng tì,nh với nó: một cuộc sống quá đầy đủ tiện nghi, xa hoa nhưng lại thiếu khí trời và không khí tự do (như con chim nuôi trong lồng son thếp vàng).

– Ở đây, cần chú ý đến tâm trạng và thái độ của Lê Hữu Trác khi chữa bệnh cho thế tử. ông hiểu rõ căn bệnh của thế tử, dưa ra những luận giải hợp lí, thuyết phục và có cách chữa đúng bệnh, nhưng lại sợ chữa có hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, bị công danh trói buộc.

Để tránh được diều mà ông không muốn đó cần chữa bệnh cầm chừng, cho thuốc vô thưởng vô phạt. Nhưng làm thế thì lại trái y đức, trái lương tâm, phụ lòng của ông cha. Hai suy nghi nấy giằng co, xung đột nhaũ. Cuối cùng, lương tâm, phẩm chất trung thực của người thầy thuốc đã thắng.

Tác giả đã gạt sang một bên cái sở thích của riêng mình để làm tròn trách nhiệm. Và khi đã quyết, tác giả thẳng thắn đưa ra và bảo vệ ý kiến của mình, mặc dù ý kiến đó trái với ý kiến của đa số thầy thuốc trong phủ chúa khiến cho quan Chánh dường ngần ngại “tỏ ý kiến nói di nói lại mấy lần”.

Những điều phân tích trên đây cho ta thấy:

+ Tác giả là một thầy thuốc giỏi, có kiến thức sâu rộng và già dặn kinh nghiệm.

+ Bên cạnh tài năng, ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ.

+ Nhưng điều đáng nói nhất là phẩm chất cao quý: khinh thường lợi danh, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh dạm, giản dị nơi quê nhà. Mặc dù việc được hưởng thụ giàu sang đang nằm trong tầm tay, nhưng ông vẫn dửng dưng không mảy may rung động. Đó là nhân cách đảng trọng của những nhà nho có khí tiết, có quan điểm sống trong sạch, thanh cao.

Quan điểm sống này cũng gián tiếp cho thấy thái độ của tác giả trước hiện thực: không đồng tình với việc hưởng thụ lạc thú quá mức xa hoa của những người nắm giữ trọng trách quốc gia. Ý muốn “về núi” của Hải Thượng Lãn ông là một sự đối nghịch gay gắt với quan điểm sống của gia đình chúa Trịnh và bọn quan quyền dưới trướng.

Không cần bình luận nhiều, nhưng những thứ sơn son thếp vàng, võng điều áo đỏ, đèn đuốc lấp lánh, hương hoa ngào ngạt,… đặt bên cạnh cái thanh đạm của một ông già áo vải “ở nơi quê mùa” tự nó đã phơi bày ra sự tương phản giữa trong và đục.

Điều này dã tô đậm thêm giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích, bởi tác giả đã phản ánh hiện thực bằng một thái dộ đúng đắn: đó là thái độ phê phán, không đồng tình trước hiện thực đã miêu tả.

Nghệ thuật viết kí sự chân thực và sắc sảo của nhà văn

Trong hai phần phân tích trên đây (mục 1 và mục 2), đã có kết hợp nói đến nghệ thuật viết kí sự của nhà văn. Ớ đây, chỉ chốt lại một số điểm:

Cách ghi chép, kể lại câu chuyện vào kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán thật chân thực, chân thực đến từng chi tiết một cách cụ thể, khách quan khiến người đọc có thể hình dung, thấy được rõ rệt, sinh dộng hức tranh phủ chúa lúc bấy giờ – nó hiện lên đầy quyền uy với một cuộc sống xa hoa đến cực độ.

Không chỉ chân thực, ngòi bút viết kí sự của tác giả còn sắc sảo ỗ chỗ nhà văn đã nắm được bản chất của bức tranh cảnh vật và con người nơi đây để ghi lại bằng những chi tiết “thật đắt”, những nét bút “có hồn”, như các chi tiết đã dẫn và phân tích trong mục 1 trên đây: lời ban khen của thế tử cho tác giả: “Ông này lạy khéo!”; cảnh di vào nội cung của thế tử; cảnh chúa Trịnh ngự giữa dám phi tần chầu chực xung quanh bên trong cái màn là, đèn sáp chiếu sáng, hương hoa ngào ngạt. Đó là những chi tiết biết nói, tự nó đã phơi bày sâu sắc bộ mặt thật của bức tranh phủ chúa.

Có được ngòi bút chân thật và sắc sảo đó là do tài quan sát tinh tế và nhạy bén của tác giả cùng với con mắt nhìn hiện thực tinh tường và thấu suốt của nhà văn, xuất phát từ nhân cách cao đẹp và thái độ không đồng tình của ông đối với cuộc sống và con người nơi phủ chúa.

cần lưu ý thêm một điều: sau này, trong văn học hiện đại, việc viết truyện ngắn, kí sự với những chi tiết hiện thực là diều phổ biến, dễ thấy; nhưng trong thời kì trung đại, khi thơ còn chiếm ưu thế, thì một tập Thượng kinh kí sự viết bằng văn xuôi, lại bằng chữ Hán mà có nhiều chi tiết hiện thực như thế là một diều đáng quý, đáng trân trọng. Và bức tranh Vào phủ chúa Trịnh ỗ dây dã ghi nhận một thành công rất có ý nghĩa của Lê Hữu Trác trong nghệ thuật viết kí sự lúc bấy giờ.

Soạn bài phần Luyện tập Vào Phủ Chúa Trịnh – Trích Thượng Kinh Kí Sự  – Lê Hữu Trác

Với yêu cầu bài luyện tập trong SGK, chúng ta có thể so sánh đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác trong Thượng kinh kí sự với đoạn trích Chuyện củ trong phủ chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút đã dược học ở lớp 9.

– Về nội dung, cả hai đoạn trích đều nói về cuộc sống cực kì xa hoa của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ. Ớ Vào phủ chúa Trịnh, nhân việc dược triệu về kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, Lê Hữu Trác đã ghi lại quang cảnh và cuộc sống trong phủ chúa; còn ở Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, Phạm Đình Hổ kể lại những thú vui chơi của Trịnh Sâm: đi chơi ngắm cảnh đẹp, ngự ở các li cung; xây dựng núi non bộ, chậu hoa cây cảnh… trong phủ chúa, vơ vét chiếm đoạt của cải, tiền bạc của nhân dân cùng với tệ nạn nhũng nhiễu của bọn hoạn quan một cách thô bạo, trắng trợn. Hai bức tranh phủ chúa ở hai đoạn trích đều chân thực, sinh động, sắc nét và có giá trị hiện thực sâu sắc.

– Thái độ của hai tác giả đều không đồng tình với cuộc sống xa hoa và tỏ ý phê phán cuộc sống nơi phủ chúa và những con người sống ở dấy, dặc biệt là chúa Trịnh Sâm, thế tử Trịnh Cán và các quan lại quyền quý.

– Về nghệ thuật, một bên là kí sự, một bên là tùy bút, nhưng đều có nét giống nhau là để cho sự việc, cảnh vật, chi tiết, con người tự nó nói lên những điều cần nói. Tuy vậy, ở doạn trích của Phạm Đình Hổ, do viết theo thể tùy bút, nên nhà văn có thể bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ nhiều hơn, thậm chí có thể nói trực tiếp ra những suy nghĩ của mình như khi chỉ ra “triệu bất tường” của một chế độ đang đi đến chỗ suy tàn. ơ đoạn trích của Lê Hữu Trác, cảm xúc, suy nghĩ thường được bộc lộ gián tiêp, kín đáo hơn, nhưng không vì thế mà kém phần sâu sắc.

Close